Phong Thủy Luân

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phong Thủy Luân xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 15/01/2021 trên website Tragopmobile.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phong Thủy Luân để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 24.552 lượt xem.

Có 39 tin bài trong chủ đề【Phong Thủy Luân】

【#1】Phong Thủy Luận . Bài 17

PHẦN 3 : KHẢO QUA MÔN CẢM XẠ PHONG THỦY.

“Cảm xạ là khả năng nhạy cảm của con người với bức xạ của vật thể. Cảm xạ (tiếng Pháp: radiesthésie; tiếng Anh: radiesthesia; xuất phát từ tiền tố radi- trong tiếng Latin có nghĩa là “phóng xạ” và từ aisthesis trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “nhạy cảm”) chỉ kỹ thuật thực hành tìm kiếm các dòng nước ngầm, khoáng vật hoặc các vật thể bị giấu kín hoặc chôn vùi, bằng những dụng cụ đặc biệt như đũa, con lắc v.v., không sử dụng máy móc thiết bị khoa học.

Cảm xạ được thực hành rộng rãi , mặc dù thiếu bằng chứng khoa học về công dụng của nó.

Ở nhiều nước, cảm xạ được coi là giả khoa học (pseudoscience) và phần lớn các cuộc khảo nghiệm khoa học được tiến hành nghiêm túc đã chỉ ra rằng các nhà cảm xạ không thể tìm được các vật thể bị che giấu với hiệu quả lớn hơn kết quả hoàn toàn ngẫu nhiên.

Song cũng có nước, ví dụ Ba Lan, định nghĩa cảm xạ là khoa học nghiên cứu việc phát ra các ion bởi các chất không phóng xạ.

Cảm xạ tồn tại dưới các hình thức khác nhau từ hàng ngàn năm trước. Nguyên thuỷ có thể cảm xạ phục vụ mục đích bói toán (pination) – bói ý chí của các thần, tiên đoán tương lai và tìm tội lỗi trong xét xử. Cảm xạ được thực hành như ngày nay có lẽ bắt nguồn ở nước Đức trong thế kỷ 15, khi được sử dụng để tìm kim loại. Kỹ thuật này đã được truyền bá sang Anh bởi các người khai mỏ Đức đến làm việc trong các mỏ than tại đó. Trong thời Trung cổ, cảm xạ gắn kết với Quỷ dữ . Năm 1659 cảm xạ bị Gaspar Schott tuyên bố là thuộc Sa-tăng. Năm 1701 Toà án Dị giáo (Inquisition) thôi sử dụng đũa cảm xạ trong xét xử. Cuối thập niên 1960 trong thời gian Chiến tranh Việt Nam, Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ hình như đã dùng cảm xạ hòng để định vị vũ khí và các địa đạo. Một quyển sách lớn về lịch sử cảm xạ được ông Christopher Bird phát hành năm 1979 dưới nhan đề Cánh tay bói toán.

Nói chung các nhà cảm xạ sử dụng que dò hoặc đũa hình chữ Y hoặc chữ L để hỗ trợ việc tìm kiếm, tuy nhiên một số nhà cảm xạ hoàn toàn không dùng thiết bị nào hoặc dùng các dụng cụ khác. Hiện nay dụng cụ cảm xạ rất phong phú và đa dạng.

Nhiều nhà cảm xạ sử dụng đũa đơn giản bằng đồng (brass) uốn gập hình chữ L được gọi là đôi đũa bói (pining rods); nhũng người khác sử dụng đũa hình chữ Y bằng gỗ và thậm chí cái mắc áo bằng dây sắt uốn cong.

Theo ý kiến một số nhà cảm xạ sử dụng đũa bói, đồng cho phép đũa hoà hợp với từ trường mà mục tiêu phát ra không bị trường điện từ của Trái Đất gây nhiễu như trong trường hợp kim loại như thép. Điểm mút của đũa được nhà cảm xạ cầm thường được bọc trong vật liệu cung cấp trở kháng (impedance) điện bất biến, để tránh cho tính dẫn điện (conductivity) của bản thân nhà cảm xạ khỏi bị nhiễu bởi quá trình cảm xạ.

Con lắc (pendulum), nhiều khi chỉ là một miếng pha lê treo dưới dây xích, hoặc một cục kim loại đôi khi được dùng trong việc bó và trong dò nước ngầm. Con lắc thường dùng nhất là:

Lắc inox hình giọt nước Antoine Luzy,

Một phương pháp sử dụng con lắc là đầu tiên người ta xác định phương hướng (trái-phải, lên-xuống) sẽ biểu thị “có” hoặc “không”, trước khi tiến hành hỏi con lắc một câu cụ thể.

Phương pháp khác là sử dụng con lắc với cảm xạ đồ – tờ giấy hoặc miếng vải có viết chữ “có” và/hoặc chữ “không” lên trên, cũng có thể là các từ khác được viết trong đồ hình tròn, bán nguyệt, cánh quạt, đa giác,… trên tờ giấy hoặc miếng vải. Người cầm con lắc cố ý giữ nó đứng yên hết sức trên trung tâm. Người xem bói có thể đưa ra các câu hỏi đối với người cầm con lắc, và sau một lát con lắc đung đưa chuyển động cả khối vô thức theo hướng câu trả lời.

Trong quá khứ, thực hành cảm xạ chỉ được dùng để dò tìm các mạch nước nằm sâu dưới lòng đất. Ngày nay cảm xạ được sử dụng phục vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau:

Địa sinh học, phong thuỷ, kiến trúc, xây dựng

Tìm mỏ quặng, mạch nước ngầm, kho báu

Tìm kiếm vật dụng hay người mất tích

Chiêm tinh, dự đoán tương lai

Đến nay chưa có nhà khoa học nào ở Việt Nam thử lý giải công việc cảm xạ; chỉ có bác sĩ Dư Quang Châu, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Cảm xạ Địa sinh học, trực thuộc Đại học Hồng Bàng, Thành phố Hồ Chí Minh đề cập tới cơ sở khoa học của cảm xạ trong các giáo trình giảng dạy từ các khía cạnh:

Sự phát xạ của mọi vật thể và sóng hình dạng;

Mối quan hệ hỗ tương giữa các bức xạ của vũ trụ và Trái Đất;

Sinh từ tính học.

Trên thế giới có hai học thuyết cố gắng lý giải sự hoạt động của hiện tượng cảm xạ: lý thuyết “vật lý” và lý thuyết “tâm thần”.

Phương pháp vật lý đặt giả thiết rằng các dòng nước chảy ngầm dưới đất phát ra những bức xạ nào đó chưa xác định rõ hoặc “rung” một cách đặc thù mà một số người cảm nhận được. Bức xạ đó tác động tới hệ thần kinh của con người khiến các cơ bắp rung động và kết quả là khiến cho con lắc hoặc đũa chuyển động. Các nhà khoa học cho rằng sở dĩ đũa chuyển động là vì trung tâm trọng lực nằm ngoài điểm tựa. Hệ ổn định mờ đó nhậy cảm với sự cố định không hoàn hảo (ví dụ cầm trong tay) và chỉ phản ứng với trọng trường Trái Đất. Tác động của “bức xạ” đến hệ thần kinh cũng không phải là sác xuất, bởi vì cơ chế dẫn các xung điện qua dây thần kinh rất giống sự truyền tín hiệu qua thang các bộ chuyển tiếp Schmitt.

Theo bác sĩ Dư Quang Châu : ” Tìm được một ngôi nhà mà mắt ta cảm nhận thấy nó có hình thức đẹp, diện tích thích hợp với nhu cầu sử dụng, màu sắc trang trí và thiết kế nội thất vừa ý, ánh sáng đủ đầy, thông (thoáng) gió và hệ thống thoát nước tốt, môi trường đẹp, giao thông việc mua bán, việc học tập của con trẻ thuận tiện… có lẽ chẳng còn gì để nói. Điều này cũng trùng hợp với nội dungcảm xạ phong thủy học (CXPTH) về nhà cửa.

Có điều, hầu như không phải ai cũng biết hướng nhà như thế nào thì phù hợp và đưa lại lợi ích nhiều mặt (sức khỏe, tài lộc, công danh, sự nghiệp, hạnh phúc, tương lai) với mình. Còn như hướng mà ta thích cũng như phương vị mà ta quen thuộc, thì CXPTH coi đó chính là hướng và phương vị phù hợp với ta hơn cả. Linh cảm, ý thức và trực giác của con người có vai trò quan trọng giúp cho sự lựa chọn được thích hợp.

Thực tế gần 20 năm nay, nhiều người mua nhà (đất) có sự tư vấn của chúng tôi thì chưa hề thấy trường hợp nào chệch ra khỏi hay đảo ngược lại với quan điểm nêu trên. Nghĩa là, khi bước vào ngôi nhà định mua, trong 3 thời điểm gồm sáng, trưa/chiều và tối, người muốn mua chỉ cần ở lại trong ngôi nhà ấy một lát, mà linh cảm, ý thức và trực giác (nói đúng hơn là Trí tuệ cảm xúc -L’intélligence émotionelle) của người muốn mua nhà sẽ mách bảo cho ta cảm ứng về ngôi nhà ấy có thích hợp hay không thích hợp. Và bấy giờ, con lắc hay đũa cảm xạ được hỏi và trả lời hoàn toàn tương ứng. Nếu thích hợp, người mua sẽ cảm thấy dễ chịu và muốn ở lại thêm một lát nữa, chứ không hề muốn rời bỏ đi ngay. Trái lại, nếu người mua thấy khó chịu, thì ngay lập tức chỉ muốn ra khỏi ngôi nhà ấy. Nhược bằng ráng mà nán lại, ở thêm một lúc sẽ tự thấy trong người đứng ngồi bồn chồn không yên hoặc tâm và thần của ta sẽ hơi bối rối. Đấy là trường hợp “chống lại chỉ định”, đồng nghĩa với việc phải đi tìm ngôi nhà khác.

CXPTH có thể giải thích hiện tượng này: trái đất có từ trường, sức hút và những sóng hình thức khác. Trong máu con người có thành tố sắt, tuần hoàn máu chịu ảnh hưởng của địa từ trường và cả những sóng hình thể khác trong phạm vi không gian, môi trường cụ thể tác động mà sinh ra cảm ứng. Cảm ứng này bao giờ cũng thực hiện trong thời gian và không gian nhất định. Và nó hướng tác động vào cơ thể con người. Lý thuyết CXPTH giúp đỡ tích cực cho chúng ta, nhằm đánh giá từ trường + các sóng hình thể hiện hữu của ngôi nhà có thích hợp với cảm ứng của con người ở trong đó hay không. Nếu thích hợp thì tuần hoàn máu của người ở trong ngôi nhà đó sẽ hoạt động bình thường, cảm giác thấy khỏe mạnh, phấn khởi, sinh hoạt, làm ăn tốt đẹp. Ngược lại, nếu không thích hợp mà cứ ở ngôi nhà đó, sẽ ngày càng cảm thấy nhiều triệu chứng bất ổn, không an toàn, thoạt đầu chỉ mới cảm thấy yếu ớt, dần dần thấy rõ hơn, nặng nề hơn và cuối cùng có thể tai họa không mong muốn cứ ập tới.

+ Cằm con người ứng với nền móng nhà. Nếu có nước ngấm dưới nền móng nhà trầm trọng, mà nền móng lại làm ẩu hay không được tốt thì hậu quả không tránh khỏi, ngôi nhà sẽ phải chịu đựng độ ẩm rất cao. Người chủ ở lâu trong đó, cái cằm sẽ chẳng chóng thì chầy sẽ xuất hiện một thứ khí hắc ám. Nội tạng sẽ trục trặc, thường bị đau bụng, đau bão, bụng kêu và đi đại tiện lỏng./tiêu chảy… Quần áo, đồ dùng trong nhà ấy dễ bị ẩm mốc, có mùi hôi khó chịu.

Giữa lông mày và mắt nổi gân xanh, rất có thể đó là ám thị cho biết nóc/mái nhà bị thẩm lậu, giột nát. Nếu vẫn bình chân như vại trong tình trạng như vậy, mà lao vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tư vấn về nhà đất hay đứng ra nhận công trình kiến trúc, thiết kế xây dựng dù lớn hay nhỏ, hoặc mua nhà đất với giá hời đi nữa cũng không đưa lại lợi ích, thậm chí sẽ dẫn tới hậu quả đáng tiếc có thể hại người thiệt của và dĩ nhiên mối quan hệ làm ăn giữa mình với mọi người chắc chắn không tốt đẹp lắm. “

Theo dienbatn : Từ nhiều năm trước đây, dienbatn đã áp dụng cảm xạ vào trong Phong thủy âm trạch và dương trạch để tìm và khử tia ác xạ, phúc xạ, xác định vị trí mồ mả, tìm các mạch nước ngầm chảy dưới lòng đất tạo nên tia ác xạ tác động đến bộ não con người, tìm những phay đất dưới nền nhà hay khu mộ, đo được các tia ác xạ từ những vật khí Phong thủy hay đồ cổ…Ngoài ra trong qua trình luyện tập theo môn cảm xạ của Dư Quang Châu, dienbatn đã có những khả năng quan trọng khi phát hiện Thiên – Địa – Nhân khí.

Các kiến thức trong phần bài này, do dienbatn sư tầm và cũng đã nhiều lần trải nghiệm qua, kết quả rất tốt. Xin giới thiệu cùng các bạn.

1/ MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CẢM XẠ.

Theo bác sĩ Dư Quang Châu, Giám đốc Trung tâm Cảm xạ địa sinh thái, trường Đại học dân lập Hồng Bàng (TP. Hồ Chí Minh), cảm xạ là khả năng nhạy cảm của con người với các tia bức xạ từ các vật thể phát ra. Theo cảm xạ học, bất kỳ vật thể nào, dù là sinh vật, thực vật, hay khoáng vật cũng đều phát ra bức xạ. Các bức xạ lan truyền theo đủ mọi hướng trong không gian, chúng đi xuyên qua mọi vật và tác động đến nhà cảm xạ. Khi đó, phản ứng cơ thể của nhà cảm xạ sẽ được truyền sang các dụng cụ cảm xạ như con lắc, đũa và chúng khuếch đại những phản ứng đó thành các loại chuyển động có hình dạng khác nhau. Bác sĩ Dư Quang Châu cho biết: “Cảm xạ học chủ yếu là luyện rung động thư giãn. Đây là phương pháp tự lắng nghe những rung động của chính mình qua việc luyện tập các bài tập. Những chuyển động trong cơ thể đều tự phát và không ai giống ai. Những rung động đó hoàn toàn tự động và chính nhờ vào sự rung động đó giúp cân bằng cơ thể (tự động tác động lên hệ thần kinh) và từng bước đẩy lùi các bệnh tật”.

1/ CÁC BƯỚC CẦN THIẾT KHI HỌC CẢM XẠ.

a/ Rung động – Thư giãn.

b/ Nâng Khí – Gọi màu.

c/ Sử dụng con lắc và các dụng cụ cảm xạ phụ trợ.

d/ Định hướng và quy ước thầm.

e/ Đặt câu hỏi và nhận câu trả lời.

A/ Rung động – Thư giãn.

Với cuộc sống nhiều xáo trộn trong xã hội hiện đại này, thì con người không thể tránh khỏi những áp lực do cuộc sống đem đến. Những áp lực đó có thể trực tiếp hay gián tiếp làm cho con người mất đi sự cân bằng trong cơ thể – nguồn gốc của bệnh tật và stress. Hay nói chính xác hơn là có những việc đáng lẽ buồn thì có lúc ta phải che giấu, đáng lẽ đến lúc cơ thể phải nghỉ ngơi thì ta lại phải cố gắng hoàn thành công việc, đáng lẽ tức giận thì ta lại phải mỉm cười cho được việc… Tất cả những cảm xúc đó bị kìm nén và chôn kín lâu dần sẽ tạo nên những ức chế trong cuộc sống và dẫn đến stress. Bài tập rung động thư giãn của cảm xạ học có thể coi là một liệu pháp chữa stress hiệu quả.

Những người chưa hiểu và chưa trải nghiệm phương pháp rung động thư giãn này mà quan sát từ bên ngoài có thể sẽ có cảm tưởng rằng học viên cảm xạ trong khi tập rung động thư giãn có những hành vi rất kì dị: uốn éo, lắc lư, lăn lê bò toài, thậm chí khóc cười vô lối… mà đôi khi bị gán cho mấy chữ tâm linh huyền bí hoặc thậm chí hai chữ “tâm thần” hoặc “ma quái”. Nghĩ vậy mà không phải vậy, vì thực chất, những học viên tập luyện hoàn toàn ở trạng thái tỉnh táo, chỉ có điều họ cho phép cơ thể được tự do thư giãn bởi phương pháp rung động thư giãn này giúp con người tự quân bình cơ thể. Khi cơ thể được thả lỏng và thư giãn hoàn toàn thì sóng rung động trong cơ thể chuyển động một cách vô thức nhằm giúp hệ thống thần kinh tự động của con người tự điều chỉnh những trục trặc, bế tắc của bản thân, từ đó đạt được sự cân bằng. Nó rất tự nhiên, như khi nóng da đổ mồ hôi, khi chạy tim đập nhanh, khi buồn ta khóc, khi vui ta cười, khi tức giận thì la hét, mà không phải kìm nén, dấu lòng. Trong tập luyện rung động thư giãn, những việc này diễn ra như một lẽ đương nhiên mà ít ai đặt câu hỏi tại sao lại như vậy? Dường như trong vô thức, những hành động bản năng này giúp con người lấy được sự cân bằng, chống chọi lại với những áp lực, căng thẳng của đời sống. Kết quả là sau những phút tựa “xuất thần” ấy, con người như trút được biết bao thứ từng chất chứa nặng trĩu trong người, chợt thấy nhẹ nhõm và sảng khoái vô cùng như thành một con người hoàn toàn tươi mới – một cảm giác thăng hoa quý giá giúp nhiều người thay đổi sâu từ tận bên trong.

Ông giải thích rõ hơn: “Năng lượng cảm xạ học cho thấy tiềm năng của con người là vô cùng to lớn. Đặc biệt là sự kỳ diệu và bí ẩn của tổ chức bộ não với hơn 16 tỉ tế bào thần kinh. Con người là một thực thể trong vũ trụ nên chỉ có thể tồn tại và phát triển tốt đẹp trong sự hài hòa với vũ trụ. Và khi có khả năng nhận biết được những thông tin phát ra dưới dạng năng lượng bức xạ từ các vật thể xung quanh nên con người rút ra được những cách thức để sống hài hòa với tự nhiên, giữ gìn sức khỏe, cải thiện môi trường sống, làm cho cuộc sống lành mạnh và tốt đẹp hơn”.

Dienbatn : Các bạn có thể tập rung động thư giãn theo video sau .

Tags: NGHIÊN CỨU PHONG THUỶ


【#2】Phong Thủy Luận . Bài 10.

Trong 216 bảng sắp xếp sao để lập quẻ, mỗi bảng đều ghi thời gian dài ngắn của Địa vận.Thời gian địa vận này được xác định nghư thế nào ? Người ta quan niệm : độ dài ngắn của Địa vận là do mối quan hệ giữa Sao ở trung cung và sao Hướng quyết định . Trong 24 Sơn và Hướng , mỗi cặp sao Sơn và Hướng đều có quan hệ giữa sao nhập trung cung và sao Hướng riêng biệt.

Vào ngục: cũng có thể nói là khí vận hành tận. Nếu một ai đó phạm pháp phải vào tù, thì không thể nói đến chuyện người đó có thể làm được gì, bởi họ đã bị khống chế trong một không gian cố định. Đinh tinh vào ngụ, nhân đinh không vượng. Hướng tinh vào ngục, tức là một loạt các tai hoạ sẽ xảy ra, chủ nhà phá sản, chết chóc thương tâm. Nếu vận vào ngục, thì thường nhìn thấy những người trong gia đình phải chết. Đối với thế cục mà song tinh hội hướng, dựa vào hướng phi tinh di chuyển tới vận của toạ sơn là thời điểm phải vào tù.

a/ Phương pháp thành môn là phép phụ trợ cho việc tọa Sơn lập Hướng.

Quẻ Thành môn có 2 loại : Thành môn chính và Thành môn phụ.

Về lý Khí , Thành môn chính hỗ trợ cho chính hướng 60 % Khí.

Thành môn phụ hỗ trợ cho chính hướng 40 % Khí.

Dựa vào Lạc thư, khi biết hướng nhà thì 2 quẻ 2 bên hướng là quẻ Thành môn.

Thành môn chính là quẻ kết hợp được với số của Hướng sẽ phù hợp tạo thành hành.

VÍ DỤ : Hướng số 1.

1 Thủy, 6 Kim . Kim sinh Thủy nên cung 6 là quẻ Thành môn chính.

1 Thủy , 8 Thổ . Thổ khắc Thủy nên cung 8 là quẻ Thành môn phụ.

Dựa theo nguyên vận khác nhau để xây dựng nhà ở , tọa Sơn lập Hướng là phải tìm được ” Vượng Sơn – Vượng Hướng ” , làm cho gia nghiệp thịnh vượng . Nếu lập được ” Vượng Sơn – Vượng Hướng ” , sẽ co được một loại vượng Khí phụ trợ , giúp đỡ thêm thì đã vượng lại càng thêm vượng. Nếu nhà lập được không phải ” Vượng Sơn – Vượng Hướng ” , nhưng được Khí của 2 bên hướng trợ giúp , thì dù hướng không đẹp vẫn có thể phát đạt, giống như đang khó khăn nhận được sự giúp đỡ. . Sức mạnh phụ trợ này chính là tìm được vượng Khí của thành môn bằng phương pháp Thành môn.

b/ Vượng Khí của Thành môn đến từ phương nào ?

* Lập hướng Chấn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Cấn và quẻ Tốn.

* Lập hướng Cấn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Chấn và quẻ Khảm.

* Lập hướng Khôn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Ly và quẻ Đoài.

* Lập hướng Càn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Khảm và quẻ Đoài.

* Lập hướng Tốn , vượng Khí của Thành môn đến từ quẻ Chấn và quẻ Ly.

Bát quái có tất cả 24 Sơn, Hướng , mỗi quẻ có 3 hướng , mỗi hướng phải chọn 2 bên nó làm Thành môn . Lập Hướng theo Nguyên long nào thì quẻ Thành môn phải chọn 2 bên thuộc nguyên long đó .

Ví dụ : Lập Hướng thuộc Thiên nguyên long thì phải chọn 2 bên Thiên nguyên long đó làm Thành môn.

Có như vậy mới giữ được ” Khí thuần cùng nguyên ” . Khí phải thuần nhất, cùng nguyên , không pha tạp mới có hiệu quả , nếu không dễ gặp tai họa.

* Lập hướng Tý, Thành môn chính ở Càn , Thành môn phụ ở Cấn.

* Lập hướng Quý, Thành môn chính ở Hợi, Thành môn phụ ở Dần.

* Lập hướng Nhâm , Thành môn chính ở Tuất , Thành môn phụ ở Sửu.

* Lập hướng Càn , Thành môn chính ở Tý , Thành môn phụ ở Dậu.

* Lập hướng Hợi , Thành môn chính ở Quý , Thành môn phụ ở Tân.

* Lập hướng Tuất , Thành môn chính ở Nhâm , Thành môn phụ ở Canh.

* Lập hướng Dậu , Thành môn chính ở Khôn , Thành môn phụ ở Càn.

* Lập hướng Tân , Thành môn chính ở Thân, Thành môn phụ ở Hợi.

* Lập hướng Canh , Thành môn chính ở Mùi, Thành môn phụ ở Tuất.

* Lập hướng Khôn , Thành môn chính ở Dậu , Thành môn phụ ở Ngọ.

* Lập hướng Thân , Thành môn chính ở Tân , Thành môn phụ ở Đinh.

* Lập hướng Mùi , Thành môn chính ở Canh , Thành môn phụ ở Bính.

* Lập hướng Ngọ , Thành môn chính ở Tốn , Thành môn phụ ở Khôn.

* Lập hướng Đinh , Thành môn chính ở Tỵ, Thành môn phụ ở Thân.

* Lập hướng Bính , Thành môn chính ở Thìn , Thành môn phụ ở Mùi.

* Lập hướng Tốn , Thành môn chính ở Ngọ , Thành môn phụ ở Mão.

* Lập hướng Tị , Thành môn chính ở Đinh , Thành môn phụ ở Ất.

* Lập hướng Thìn , Thành môn chính ở Bính , Thành môn phụ ở Giáp.

* Lập hướng Mão , Thành môn chính ở Cấn , Thành môn phụ ở Tốn.

* Lập hướng Ất, Thành môn chính ở Dần , Thành môn phụ ở Tị.

* Lập hướng Giáp , Thành môn chính ở Sửu , Thành môn phụ ở Thìn.

* Lập hướng Cấn , Thành môn chính ở Mão , Thành môn phụ ở Tý.

* Lập hướng Dần , Thành môn chính ở Ất , Thành môn phụ ở Quý.

* Lập hướng Sửu , Thành môn chính ở Giáp , Thành môn phụ ở Nhâm.

c/ Không phải hai bên của hướng nào cũng có Thành môn đáng chọn.

Về nguyên tắc, 2 bên của một Hướng xác định , đều tốn tại Thành môn chính và Thành môn phụ. Nhưng vì âm , dương của Hướng tinh Thiên bàn bay đến 2 bên khác nhau sẽ tạo ra 3 tình hướng :

* Một là hai bên của Hướng tồn tại Thành môn chính và thành môn phụ.

* Hai là Chỉ có 1 bên của Hướng có Thành môn chính hoặc phụ, còn bên kia không có .

* Ba là 2 bên đều không có Thành môn nào có thể chọn .

Tại sao lại xuất hiện 3 tình hướng này ? Đó là do nguyên nhân tương quan của 2 bên tạo nên.

a/ Thứ nhất là do Tam nguyên của Hướng được xác lập tạo nên . Hướng được lập có tam nguyên là một trong cac nguyên ( Thiên – Địa – Nhân nguyên long ) . Nếu hướng là Thiên nguyên long cũng sẽ đòi hỏi Thành môn 2 bên Hướng là Thiên nguyên long. Các trường hợp Hướng là Nhân nguyên long và Địa nguyên long cũng tương tự như vậy.Chỉ khi đạt được yêu cầu đó mới có thể giữ được một thứ khí cùng nguyên..

b/ Thứ 2 là do tính chất âm – dương của cung gốc Hậu Thiên bát quái của phi tinh Thiên bàn hai bên quyết định.

Ví dụ : Lập sơn Tuất – Hướng Thìn , Thành môn 2 bên hướng Thìn là Giáp và Bính , cùng là Địa nguyên long đảm bảo chắc chắn được một loại khí cùng nguyên.

Tính Thành môn vượng hay suy .

Ví dụ : Nhà tọa Canh – Hướng Giáp – Vận 3.

Thành môn chính đưa số 6 nhập trung cung.

Thành môn phụ đưa số 2 nhập trung cung.

Thành môn chính và Thành môn phụ đều vượng khí.

Luận : 1/ Thướng Sơn – Hạ Thủy ( xấu ).

2/ Phục ngâm Sơn tinh.

3/ Hướng thủ đoạt hồn( gây chết chóc ).

4/ Nhà này muốn tốt cần phải mở cửa tại cung Tốn ( 2 ) , xung quanh có đường đi để khí vào vì Thành môn chính và Thành môn phụ đều vượng khí, để hỗ trợ cho hướng chính.

Thành môn ngầm : Hướng có số 5 ở bên phải hoặc bên trái hướng nhà gọi là Thành môn ngầm.

Thành môn quyết: là thông qua tứ vị khởi cha mẹ, nhìn ra cách bí mật của mạch để lập toạ hướng. Quyển sách này vốn dựa vào hướng thượng tả và hữu hai cung, những vận phi lâm khác có thể dựa vào nghịch ái đương lệnh vượng khí đến cung này, tức là có thể dùng ” Thành môn quyết”. Phương pháp này là dùng để bổ cứu cho sơn hướng mà không phải đương nguyên; âm trạch dùng để thu nhân thuỷ, dương trạch dùng để mở cửa, an phúc thần, bàn làm việc. Nếu sử dụng những điều này thì phát tài rất nhanh chóng. Căn cứ vào kinh nghiệm của tác giả, lấy vượng khí và sinh khí của hướng tinh, những phương của nước mà sao di chuyển tới có, mới là ” Thành môn quyết” chuẩn nghiệm nhất. “Thành môn quyết” thực sự là tác giả dùng để khảo cứu long mạch, định toạ hướng. Người đọc cần suy nghĩ cẩn thận ” Ngọc chiếu kinh”. “Ngũ tinh nhất quyết phi chân thuật, thành môn nhất quyết tối vi Cấn ; Khi nhận biết được ngũ tinh Thành môn quyết, thì việc xây dựng nhà cửa hay yên phần mồ mả mới là cát.

Phép mở cửa dùng “thành môn quyết”

Đối với những nhà ở hoặc cơ sở kinh doanh có hướng bị kiêm hướng, hướng không có vượng khí tới hướng hoặc có vượng khí tới hướng nhưng muốn mở thêm cửa phụ tại những cung có hướng tinh là sinh, tiến khí thì ta cần dùng “thành môn quyết” còn gọi là “bí quyết thành môn” để mở cửa.

Điều cần lưu ý là khi dùng ” thành môn quyết”để mở cửa phụ là vấn đề hoà hợp âm dương. Thí dụ: cửa chính tại sơn dương thì cửa phụ tại sơn âm và ngược lại. Có như thế thì mới được lâu dài, bằng không thí chỉ được lúc đầu mà thôi.

Ngoài ra còn một số trường hợp sau:

1)_ Nhà bị kiêm hướng hoặc hướng không có vượng khí. Thí dụ: nhà GIÁP hướng CANH vận 8. Khi an hướng bàn thì tử khí tam bích(3) tới hướng. Nếu mở cửa tại CANH thì gặp tử khí. Nay dùng bí quyết thành môn xét cung DẬU: Vận tinh 1 nhập trung cung, DẬU là thiên nguyên, thiên nguyên của 1 là TÝ, TÝ tính chất là âm nên 1 đi nghịch, vượng khí 8 tới DẬU. Vậy nếu mở cửa tại dậu thì sẽ có vượng khí tới cửa. Điều này sẽ làm vượng những nhà có hướng không vượng hoặc bị kiêm hướng. Cần lưu ý cửa chỉ để trọn trong cung đó mà thôi, không nên cho lấn qua cung khác vì lúc đó âm dương lẫn lộn mà mất đi cái tốt đẹp.

2)_ Nhà qua vận sau không còn vượng khí. Thí dụ: Nhà TUẤT hướng THÌN vận 7 có cửa tại TUẤT được vượng sơn vượng hướng, nay qua vận 8 thì 7 trở thành thoái khi. Nếu có đổi vận thì cũng không tốt đẹp vì tinh bàn vận 8 tử khí 6 tới hướng. Nay không dùng cửa tại THÌN nữa mà mở cửa khác tại TỐN (hoặc TỴ), dùng bí quyết thành môn với vận bàn 8 nhập trung cung, vận tinh tại TỐN là 7, TỐN là thiên nguyên, thiên nguyên của 7 là ĐOÀI, ĐOÀI âm nên 7 đi nghịch, vượng khí 8 tới TỐN

3)- Nhà có hướng tinh là sinh vượng khí nhưng mở cửa không đúng cách thì cũng không nhận được vượng khí vào nhà mà làm ăn suy bại. Thí dụ: nhà tọa Càn hướng Tốn. Thay vì mở cửa ở Tốn hay Tị, nay lại mở ở Thìn. Xét cung Đông Nam vận 8 có vận tinh 7. Thìn là địa nguyên long, Địa nguyên long của thất xích là Canh. Canh dương nên đi thuận thì tử khí lục bạch đến cung Thìn. Vậy nhà không nhận được vượng khí.

4)- Nhà Tuy không được vượng khí đến hướng nhưng nếu mở cửa có khí thành môn thì vẫn không đến nỗi suy bại. Thí dụ nhà tọa Thìn hướng Tuất vận 8. bị Thướng sơn hà thủy, có hướng tinh 1 đến hướng. 1 tuy là tiến khí nhưng còn xa. Nếu mở cửa tại cung Càn hoặc Hợi thì vẫn tốt đẹp một thời.

5)_ Nhà đã được cửa có vượng khí nay muốn mở thêm cửa phụ tại hướng có hướng tinh là sinh hoặc tiến khí. Thí dụ: Nhà SỬU hướng MÙI vận 8. Tinh bàn có vượng tinh 8 tới hướng, sao sinh khí 9 tới hướng BẮC. Nay muốn mở cửa tại BẮC ta áp dụng bí quyết thành môn. MÙI thuộc địa nguyên long, địa nguyên long tại hướng BẮC là NHÂM. Vận tinh tại BẮC là 4, lấy 4 nhập trung cung bay nghịch (địa nguyên long của 4 là THÌN, tính chất của THÌN là âm) vượng khí 8 tới NHÂM. Để ý ta thấy tính chất của MÙI là âm và tính chất của NHÂM là dương

Để tìm cung có vượng khí trong nhà hầu đặt bếp hoặc đặt thủy kích tài, Ta cũng cần dùng “bí quyết thành môn”.

Trong vận 8 này các cung có vượng khí theo “thành môn quyết” là:

– Hướng Tây Bắc: Càn, Hợi

– Hướng Đông Nam: Tốn, Tị

Thí dụ: Nhà Nhâm hướng Bính vận 8. Cung Đông Bắc có (1-6), nay muốn đặt nước kích tài thì cung đặt nước có tác dụng mạnh nhất là trong cung Sửu. Hướng Bắc có cặp (8-8), nay muốn đặt bếp thì vị trí tốt nhất là cung Nhâm. Đối với các vật khí khác cũng vậy…

Xin theo dõi tiếp bài 11 – dienbatn .


【#3】Phong Thủy Luận Bài 13 Điện Bà Tây Ninh

a/ KHÁI NIỆM :

Trong tất cả các phần ở những bài trước, khi phân cung , điểm hướng nhà hay mộ phần, chúng ta toàn sử dụng trong những trường hợp là CHÍNH HƯỚNG. Trong khi đó , đa phần những trường hợp chúng ta gặp trên thực tế đều là không phải chính hướng.

Tám cung Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn và Ðoài còn được chia ra làm 24 sơn tức là mổi cung được chia ra 3 sơn như sau đây:

1. Cung Càn (Tây-bắc) có các sơn:

a. Tuất: nằm trong giới hạn từ 292.5 đến 307.4 độ. Chính Tuất 300 độ.

b. Càn: nằm trong giới hạn từ 307.5 đến 322.4 độ. Chính Càn 315 độ .

c. Hợi: nằm trong giới hạn từ 322.5 đến 337.4 độ. Chính Hợi 330 độ.

2. Cung Khảm (Bắc) có các sơn:

a. Nhâm: nằm trong giới hạn từ 337.5 đến 352.4 độ. Chính Nhâm 345 độ .

b. Tý: nằm trong giới hạn từ 352.5 đến 7.4 độ. Chính tý 0 độ .

c. Quý: nằm trong giới hạn từ 7.5 đến 22.4 độ. Chính Quý 15 độ .

3. Cung Cấn (Ðông-bắc) có các sơn:

a. Sửu: nằm trong giới hạn từ 22.5 đến 37.4 độ. Chính Sửu 30 độ .

b. Cấn: nằm trong giới hạn từ 37.5 đến 52.4 độ. Chính Cấn 45 độ .

c. Dần: nằm trong giới hạn từ 52.5 đến 67.4 độ. Chính Dần 60 độ .

4. Cung Chấn (Ðông) có các sơn:

a. Giáp: nằm trong giới hạn từ 67.5 đến 82.4 độ. Chính Giáp 75 độ .

b. Mảo: nằm trong giới hạn từ 82.5 đến 97.4 độ. Chính Mão 90 độ .

c. Ất: nằm trong giới hạn từ 97.5 đến 112.4 độ. Chính Ất 105 độ .

5. Cung Tốn (Ðông-nam) có các sơn:

a. Thìn: nằm trong giới hạn từ 112.5 đến 127.4 độ. Chính Thìn 120 độ ,

b. Tốn: nằm trong giới hạn từ 127.5 đến 142.4 độ. Chính Tốn 135 độ .

c. Tỵ: nằm trong giới hạn từ 142.5 đến 157.4 độ. Chính Tỵ 150 độ .

6. Cung Ly (Nam) có các sơn:

a. Bính: nằm trong giới hạn từ 157.5 đến 172.4 độ. Chính Bính 165 độ .

b. Ngọ: nằm trong giới hạn từ 172.5 đến 187.4 độ. Chính Ngọ 180 độ .

c. Ðinh: nằm trong giới hạn từ 187.5 đến 202.4 độ. Chính Đinh 195 độ .

7. Cung Khôn (Tây-nam) có các sơn:

a. Mùi: nằm trong giới hạn từ 202.5 đến 217.4 độ. Chính Mùi 210 độ .

b. Khôn: nằm trong giới hạn từ 217.5 đến 232.4 độ. Chính Khôn 225 độ .

c. Thân: nằm trong giới hạn từ 232.5 đến 247.4 độ. Chính Thân 240 độ .

8. Cung Ðoài (Tây) có các sơn:

a. Canh: nằm trong giới hạn từ 247.5 đến 262.4 độ. Chính Canh 255 độ .

b. Dậu: nằm trong giới hạn từ 262.5 đến 277.4 độ. Chính Dậu 270 độ .

c. Tân: nằm trong giới hạn từ 277.5 đến 292.4 độ. Chính Tân 285 độ .

Mỗi tọa Sơn hay lập Hướng chỉ chiếm 15 độ. Dùng đường trung tuyến chia đôi thì mỗi nửa của Sơn hay Hướng chỉ chiếm 7,5 độ . Khi lệch với chính hướng nhỏ hơn 3 độ thì ta vẫn coi là chính hướng. Nhưng khi lệch so với chính hướng lớn hơn 3 độ thì lúc này tạp Khí rất nhiều , nên phải thay thế quẻ bằng quẻ khác mới điều chỉnh được Khí quẻ.

Khi phân cung mà gặp trường hợp không được chính hướng ( gọi là nhà kiêm hướng – Sai lệch so với chính hướng từ lớn hơn 3 độ đến 7 độ ), ta phải lập theo một phương pháp đặc biệt gọi là THẾ QUÁI.

B / Quẻ thay thế có 3 trường hợp :

1/ Quẻ thay Sơn tinh.

2/ Quẻ thay Hướng tinh.

3/ Quẻ thay cả Sơn tinh và Hướng tinh.

Đó là ba trường hợp, đại để là Hướng nếu tìm được sao thay thế thì thay Hướng tinh, nếu không tìm được sao thay thế thì thay Sơn tinh. Đối với trường hợp tìm được sao thay thế cả Sơn lẫn Hướng thì ta thay thế cả

C/ Có một số sơn, Hướng tuy lệch từ lớn hơn 3 độ đến 7 độ, nhưng khi lập Hướng , hai sao Sơn và Hướng đều không tìm được sao thay thế :

Người ta vẫn dùng 2 sao Sơn và Hướng cũ , lần lượt nhập trung cung, tuy được vượng Sơn vượng Hướng nhưng vẫn xem là không vượng Sơn vượng Hướng , bởi phạm phải âm – dương sai lệch hoặc phạm vào quẻ xuất Hướng.

D/ QUẺ THUẦN :

Dùng quẻ thay kiêm Hướng sẽ xuất hiện 8 trường hợp vô cùng đặc biệt , đó là 8 quẻ thuần. Loại quẻ này phi tinh của Sơn và Hướng chữ nào cũng giống nhau , không hề biến đổi – Đó là quẻ đại hung mà trong 216 cục không có . Quẻ này cũng còn gọi là quẻ phản phục ngâm . 8 quẻ thuần trong 216 cục , chỉ có 6 cục đều phát sinh ở hai cung Khôn và Tốn tại Vận 5. Đặc điểm của 8 quẻ thuần là Càn gặp càn, Tốn gặp Tốn, Cấn gặp Cấn, Khôn gặp Khôn …., Sơn tinh và Hướng tinh cùng một chữ.

E/ VÌ SAO KIÊM HƯỚNG PHẢI DÙNG QUẺ THAY THẾ :

Kiêm Hướng có 3 trường hợp :

a/ Kiêm Hướng đồng tính :

Thiên nguyên long và Nhân nguyên long cùng thuộc tính dương hay âm có thể kiêm dùng.

Tý, Quý, Mão, Ất , Ngọ, Đinh , Dậu , Tân cùng thuộc tính âm nên 2 quẻ kiêm cùng tính âm. Cấn, Dần, Tốn, Tị , Khôn , Thân, Càn , Hợi cùng thuộc tính dương , nên 2 quẻ cùng tính dương.

b/ Kiêm hướng khác tính :

Thiên nguyên long và Địa nguyên long là âm dương tương kiêm. Tý và Nhâm , Cấn và Sửu, Mão và Giáp, Tốn và Thìn, Ngọ và Bính, Khôn và Mùi , Dậu và Canh, Càn và Tuất là một âm một dương kiêm dùng với nhau.

c/ Kiêm tương quẻ xuất .

Quẻ Khảm và quẻ Cấn là Quý Sửu tương kiêm, quẻ Cấn và quẻ Chấn là Dần Giáp tương kiêm, quẻ Chấn và quẻ Tốn là Ất Thìn tương kie6mque3 Tốn và quẻ Ly là Tị Bính tương kiêm, quẻ Ly và quẻ Khôn là Đinh Mùi tương kiêm, quẻ Khôn và quẻ Đoài là Thân Canh tương kiêm, quẻ Đoài và quẻ Càn là Tân Tuất tương kiêm, quẻ Càn và quẻ Khảm là Hợi Nhâm tương kiêm,

Ngược lại : Khảm và Càn, Càn và Đoài , Đoài và Khôn, Khôn và Ly, Ly và Tốn, Tốn và Chấn , Chấn và Cấn, Cấn và Khảm cũng là quẻ xuất tương kiêm .

Đã là quẻ xuất tương kiêm thì Khí quẻ không thuần , tạo thành tạp khí hỗn loạn , chiêu lấy hung họa. Do vậy mà ta cần phải dùng phương pháp quẻ thay thế để điều chỉnh tạp khí, tránh được hung sát.

Nếu chính hướng không tìm được vượng Sơn vượng Hướng , nhưng có Thành môn thì ta có thể dùng quẻ thay kiêm hướng cho vượng tinh đáo thành môn , thu hút được khí tốt của núi sông .

G/ CÁCH KHỞI THẾ QUÁI .

Bước 1 : Lập vận bàn.

Bước 2 : Xác lập mũi tên ( Chiều ) Sơn và Hướng.

Bước 3 : Nhập trung cung Sơn tinh và Hướng tinh.

Bước 4 : Xác định Tam nguyên long để biết chiều thuận hay nghịch của phi tinh.

Bước 5 : Căn cứ vào Tam nguyên long của Sơn tinh và Hướng tinh, nhìn vào vòng số 6 trên La kinh ( 24 Sơn ) để lấy Thế tinh.

Lưu ý : Âm – Dương phi thuận nghịch lấy theo số của Sơn và Hướng tinh gốc.

Nhắc lại một chút kiến thức Huyền không :

VÍ DỤ :

Nhà tọa Hợi – Hướng Tị ( kiêm 4,5 độ ) kiêm Càn Tốn Nhâm Bính – Vận 7.

Hướng Tị – Thuộc Nhân nguyên long – Sao địa bàn là số 6 , quẻ số 6 là Càn. Quẻ Càn ( Tuất Sơn – Địa nguyên long. Càn Sơn – Thiên nguyên long. Hợi Sơn – Nhân nguyên long ) . trên vòng La kinh Hợi là Vũ Khúc số 6. Đặt số 6+ vào trung cung bên phải. Vận hành theo chiều thuận.

Tọa Hợi là Nhân nguyên long – Sao địa bàn là số 8 , quẻ số 8 là Cấn . Quẻ Cấn ( Sửu Sơn – Địa nguyên long. Cấn Sơn – Thiên nguyên long. Dần Sơn – Nhân nguyên long ) . C ó Nhân nguyên Long là Dần. Tại vòng La kinh số 6 Dần là sao Hữu bật số 9. Đặt số 9 + vào trung cung bên trái. Vận hành theo chiều thuận.

Lưu ý : Âm – Dương phi thuận nghịch lấy theo số của Sơn và Hướng tinh gốc.

Giải thích : Lục đáo Hướng. Nhân nguyên long của Lục là Hợi – Sao Vũ Khúc. Vẫn dùng Lục của Vũ Khúc nhập trung cung. Hợi là dương nên vận hành thuận.

Bát đáo Sơn . Nhân nguyên long của bát là Dần – là sao Hữu bật , nên không nhập Bát vào trung cung mà nhập Cửu vào trung cung . Dần là dương nên Cửu hành theo chiều thuận.

Quẻ này Thành môn ở phương Ất.

Các bạn có thể tra cứu 216 quẻ thay kiêm hướng tại cuốn Cổ dịch Huyền không học của Hồ Kính Quốc.

Tác giả: Điện Bà Tây Ninh


【#4】Phong Thủy Luận . Bài 18.

Hệ thần kinh và các luân xa

Luân xa 7: Điều khiển toàn bộ cơ thể. Chủ trị các bệnh thần kinh, phối hợp với các LX khác chữa trị hầu hết các bệnh.

Luân xa 5: Chữa trị hô hấp, mũi, họng, phổi, suyễn, bệnh về da, dị ứng (allergy).

Luân xa 4: Chữa trị về tim và cholesterol.

Luân xa 3: Điều hòa năng lượng cơ thể. Chữa trị các bệnh về tiêu hóa, gan, dạ dày, ruột, lá lách, thận.

Luân xa 2: Chữa trị về bộ phận sinh dục, bài tiết.

Luân xa 1: Là tiềm lực nguồn vũ trụ.

Sự hiểu biết về hệ thống và vị trí các luân xa là rất quan trọng trong quá trình tập thiền. Luân xa là các huyệt đạo chính trên cơ thể, được sắp xếp theo các cặp đối xứng.

Luân xa 6-16, 7-1, 5-8, 4-9, 3-10, 2-11 mà trong đó các luân xa 6, 7, 5, 4, 3, 2 nằm trên mạch đốc (mạch dương), các luân xa 8, 9, 10, 11 và 1 nằm trên mạch nhâm (mạch âm).

(Ghi chú: Trong một số tài liệu khác người ta xếp các luân xa theo cặp A-B.)

– 2 huyệt Lao Cung trong 2 lòng bàn tay: huyệt ở trên đường văn tim của gan bàn tay, nơi khe của ngón giữa và ngón vô danh (ngón 4 hay còn gọi là ngón nhẫn) chạm vào đường văn này hoặc gấp các ngón tay vào lòng bàn tay, đầu ngón tay giữa chạm vào đường nếp gấp giữa lòng bàn tay (đường tâm đạo) ở đâu thì đó là huyệt – xem ảnh dưới

– 2 huyệt Dũng Tuyền trong 2 lòng bàn chân: huyệt nằm trên gan bàn chân. Lấy khoảng cách từ ngón chân thứ 2 (ngón chân trỏ) tới gót chân chia làm 5 phần, thì huyệt Dũng Tuyền là điểm lõm nằm cách ngón chân trỏ 2/5 khoảng cách đó (cách gót 3/5) – xem ảnh trên.

– Cửu khiếu: 2 lỗ tai, 2 mắt, 2 lỗ mũi, miệng, lỗ sinh dục, lỗ bài tiết

– Lục phủ: 6 bộ phận quan trọng trong vùng bụng là vị (bao tử), đảm/đởm (mật), tam tiêu (thượng tiêu là miệng trên của bao tử, trung tiêu là khoảng giữa bao tử, hạ tiêu là miệng trên của bàng quang), bàng quang (bọng đái), tiểu trường (ruột non), đại trường (ruột già)

– Ngũ tạng: 5 bộ phận quan trọng trong vùng ngực và bụng là tâm (tim), can (gan), tỳ (lá lách), phế (phổi), thận (cật)

– và 2 huyệt Thái Dương ở chỗ lõm phía sau ngoài đuôi mắt 1 tấc, ấn vào có cảm giác ê tức.

– ngồi xếp chân bằng tròn

– Vai để xuôi tự nhiên.

2. Ngồi xếp bằng tròn (vành tròn)

( http://www.luatamuoi.com/).

Bây giờ dienbatn mời các bạn ngồi theo một trong những tư thế trên và nghe nhạc.

Phương Pháp Khai Mở Con Mắt Thứ 3

(Phần này các bạn không nên tự ý tập, khi tập cần có thày hướng dẫn. Tốt nhất các bạn nên đến những trung tâm của bác sĩ Dư Quang Châu đăng ký học. )

Truyền Pháp: Cư sĩ THANH TÂM

Phương pháp này là của Mật Giáo Ấn Độ ( Phái Du Già ) và hoàn toàn không dính líu gì đến Phương Pháp Xuất Hồn của Ông Tám-Lương Sĩ Hằng.

1.Ngồi ngay thẳng, xương sống thật thẳng. Đặt 2 cùi Chỏ song song ngang bằng với 2 Vai, hoặc cao vừa đủ để bạn có thể đặt 2 ngón tay Cái vào 2 lỗ Tai dễ dàng mà không nghiêng mình về phía trước hoặc phía sau.

2.Đè mạnh 2 ngón tay Cái chặt vào trong 2 lỗ Tai vừa đủ không quá mạnh.

3.Đặt các ngón Út vào 2 khóe mắt để có thể khép nó lại 1 cách nhẹ nhàng và tránh sự chuyển động của con ngươi.

4.Đặt những ngón tay còn lại lên trên Trán.

5.Với Mắt nhắm lại hãy hướng cái nhìn bằng Tâm của bạn vào khoảng giữa 2 chân mày và giữ cái nhìn cố định vào nơi đó.

6.Mặc niệm âm thanh ” OM, OM ” nhưng klhông được phát ra bất kỳ tiếng động nào của Lưỡi hoặc Miệng.

7.Lắng nghe vào trong nơi lỗ Tai bên Mặt mà nơi đó luồng năng lực của từ điện vừa đủ mạnh để có thể bắt được những âm thanh khác ( Nếu bạn thuận tay Trái thì Nhĩ căn của bạn hợp với bên lỗ Tai Trái thì bạn nên lắng nghe bằng Tai Trái ).

8.Tập trung vào bất cứ âm thanh nào mà bạn cảm thấy lớn nhất ( Bạn có thể nghe cùng 1 lúc tập hợp các âm thanh với các cường độ khác nhau ).

9.Tập trung vào 1 âm thanh duy nhất cùng 1 lúc tức âm thanh lớn nhất, khi bạn lắng nghe những âm thanh khác sẽ tuần tự đến sau. Từng âm thanh 1 lắng nghe cho rõ phân biệt và các âm thanh khác nhau này như là mỗi âm thanh lớn nhất.

10.Hãy mặc niệm âm thanh vũ trụ ” OM ” và nhìn vào điểm giữa 2 chân mày 1 cách tự nhiên mà không cần cố gắng nào cả. Khi cặp mắt trở nên bình lặng và yên tĩnh, bạn có thể thấy 1 ánh sáng hoặc 1 ngôi sao 5 cánh, ở nơi điểm giữa 2 chân mày, nhưng trong suốt thời gian áp dụng phương pháp này: Điều quan trọng nhất là tập trung tinh thần vào các âm thanh vũ trụ hay là âm thanh OM ( Cố gắng nhìn thấy được con mắt tâm linh hay tâm nhãn nằm nơi điểm giữa 2 chân mày sau 1 thời gian thực tập phương pháp này ) nên lắng nghe âm thanh bên trong nơi lỗ Tai bên Mặt.

11.Nếu bạn có thể nghe được âm thanh vũ trụ OM cùng 1 lúc ngay lập tức như là Tiếng Thét Gầm Của Sóng Biển, tức là Tiếng Hải Triều Âm, thì không phải nghe các âm thanh khác nữa mà chỉ cần TẬP TRUNG vào âm thanh đó thôi. Cố gắng thể nhập vào 1 âm thanh đó, bỡi vì Đức Phật Mẫu Quan Âm có thể hiển hiện đến với bạn qua âm thanh vũ trụ OM đó.

Theo CĂN BẢN MẬT TÔNG TÂY TẠNG của vị Lạt ma Người Đức, tức Lama ANAGARIKA GOVINDA, trang 61: OM là cái âm thanh sâu thẳm của 1 thực tại vĩnh cửu, rung động trong chúng ta từ dĩ vãng vô thủy và âm vọng lại trong chúng ta, nếu như chúng ta biết khai mở được thính quan nội tại ( Nhĩ căn viên thông ) bằng cách bình tịnh được tâm trí vọng động của chúng ta./.

Nguồn : http://xuangiao.com/phuong-phap-khai-mo-con-mat-thu-3.html#ixzz2cJXNEZIT


【#5】Phong Thủy Luận . Bài 12

(5) Đào hoa cung (4 + 7): Vượng: Hỷ khí, chủ sự may mắn, sớm thành đạt, được nhiều người giúp đỡ, tình cảm, tình duyên, sinh ra người đẹp, khôi ngô, có duyên (Người chưa có gia đình nên đặt cửa, bàn làm việc vào đây, thanh niên mới đi làm đặt bàn làm việc vào đây thì tốt. Kỵ với người có gia đình, con cái, bàn thờ, giường đặt vào; không tốt hay sinh sự). Suy: Hoạ đào hoa sát (tai hoạ vì tình cảm không trong sáng, không lành mạnh).

(6) Tài lộc cung (1 + 7; 3 + 9; 7 + 8; 8 + 9): Vượng: Chủ tiền tài, giàu có. Tăng tài tiến lộc, làm ăn thịnh vượng phát tài. Đẹp nhất là đặt cửa ra vào (tài lộc lâm môn là đẹp nhất), hoặc cầu thang (vì động khí mạnh), phòng làm việc, phòng ngủ, bếp nhưng phải xem chủ khách để phụ hoạ thêm vì

Ví dụ: vận 7, cửa ra vào có 3+7 (kiếp tài), số 7 là chủ, số 3 là khách, kim khắc mộc là khắc xuất hung. Tức là hung vượng thì phải làm cho con số 3 vượng là chủ, số 7 là khách, 7 khắc nhập là cát, khi cát tăng thì hung sẽ giảm. Muốn vậy phải trấn để cho 7 là khách thì phải có sơn: đắp một hòn giả sơn. (Trong 9 cung của nhà thì Cửa là giá trị nhất, sau đó đếng Hướng và sau mới đến Sơn.)

(11) Hoạ hại cung (1 + 3; 3 + 6; 5 + 9; 6 + 7; 7 + 9): Chủ về tai hoạ vận hạn, tai bay vạ gió, điều tiếng và ốm đau. Nên đặt bất tiết minh (nhà tắm, vệ sinh…). 5 + 9 vượng thành “Hồi lộc chi tai” cách (lộc đến kèm tai họa), vượng thích hợp với nghề Y, Dược, suy là hoạ hại với thảo dân thành “Cửu hoàng độc chiêu sát”. 7 + 9 suy là “Lưỡng hoả sát”. 6 + 7 suy là “Giao kiếm sát”, sát chủ trộm cướp (7 + 7 suy là “song kiếm sát”).

(13) Đoạt hồn cung (2 + 4; 3 + 8; 4 +8): Chỉ về cái chết, giống Tuyệt mệnh (bệnh tật, tai nạn…) Tránh đặt cửa, bàn thờ. Nên để những cái tĩnh, ít động, bất tiết minh (nhà tắm, vệ sinh…). 4 + 8 nếu vượng và trạch bàn tốt với người có đức thì là “ân tình phù trợ cách”

(14) Tụng đình cung (2 + 3): Chủ sự cãi vã, kiện tụng, tranh chấp (nếu có thêm cột điện hay là sơn cao thì suốt ngày kiện tụng). Vượng: Kiện cáo, tranh chấp thường là mình đứng nguyên đơn (đi kiện người). Suy: Ta là người bị kiện. Vượng hay suy đều là “Đấu ngưu sát”. Thường tốt với người làm công tác pháp luật, khi đó được gọi là “Tụng đình cung”.

Suy: hay gặp hoạ vì hoan hỷ, cãi nhau, hay cờ bạc, chơi bời, trai gái, nghiện hút.

(16) Diên thọ cung (1 + 9; 6 + 9): Chủ tuổi thọ cao, phúc đức (hai cung Diên thọ và Phúc đức thích hợp đặt bàn thờ). Nếu bàn thờ ở cung này mà cửa ra Tật ách thì sống lâu mà bệnh tật suốt lại là

5/ LỤC DIỆU BÁT SƠN TÁC TÁO.

Lục diệu : Lục diệu này kỵ Bát sát và Hoàng tuyền ).

Căn cứ vào Tọa Sơn ngôi nhà . Nếu bếp tách hẳn ra khỏi nhà thì xác định theo tọa Sơn của nhà bếp.

1/ Nhất Long. Cát.

2/ Nhị Vũ . Hung.

3/ Tam Âm . Hung.

5/ Ngũ Xà – Hung.

6/ Lục Trận . Hung.

Từ tâm của nhà, kéo một đường thẳng đến tâm của bếp lò, chia làm 3 loại :

a/ Tọa Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Giáp , Canh , Nhâm , Bính.

Nhâm, Tý – Nhất Long.

Cấn, Dần – Tam Âm.

Tốn , Tỵ – Lục Trấn.

Bính, Ngọ – Nhất Long.

Khôn , Thân – Tam Âm.

Càn , Hợi – Lục Trấn.

Tọa Mão kỵ Nhâm Tý ( Đào hoa sát ).

Tọa Ngọ kỵ Giáp Mão ( Đào hoa sát ).

Tọa Dậu kỵ Bính Ngọ ( Đào hoa sát ).

Tọa Tý kỵ Canh Dậu ( Đào hoa sát ).

b/ Tọa Dần , Thân , Tỵ , Hợi, Càn , Khôn, Cấn , Tốn .

Nhâm , Tý – Lục Trấn.

Quý , Sửu Nhất Long.

Giáp , Mão – Tam Âm.

Bính , Ngọ – Lục Trần.

Đinh , Mùi – Nhất Long.

Canh , Dậu – Tam Âm.

Khảm ( Nhâm , Tý , Quý kị Thìn vì phạm bát sát.

Khôn ( Mùi , Khôn , Thân ) kị Mão vì phạm bát sát.

Chấn ( Giáp , Mão , Ất ) kị Thân vì phạm bát sát.

Tốn ( Thìn, Tốn , Tị ) kị Dậu vì phạm bát sát.

Càn ( Tuất , Càn , Hợi ) kị Ngọ vì phạm bát sát.

Đoài ( Canh, Dậu, Tân ) kị Tị vì phạm bát sát.

Ly ( Bính , Ngọ , Đinh ) kị Hợi vì phạm bát sát.

c/ Tọa Thìn , Tuất , Sửu, Mùi, Ất , Tân , Đinh, Quý.

Càn , Hợi – Nhất Long.

Ví dụ : Nhà Tọa Ất – Hướng Tân .

Vị trí tốt đặt bếp tại cấn, Dần, Tốn , Tỵ. Ta chọn đặt bếp tại Tỵ để tránh Hoàng tuyền.


【#6】Phong Thủy Luận . Bài 11

Phần 2 : KHẢO QUA HUYỀN KHÔNG.

MỘT SỐ QUY TẮC CỦA CỔ DỊCH HUYỀN KHÔNG.

( Những tài liệu ở đây do dienbatn sưu tầm và tổng hợp- Vì quá nhiều nguồn nên dienbatn không ghi nguồn – Xin cảm ơn các tác giả – dienbatn )

3/ Bàn về quẻ Tam ban.

Quẻ nối liền nhau được hình thành trên cơ sở hai cung Sơn và hướng hợp thành 10 gọi là quẻ Tam chúng tôi cung cùng nhau sinh thành như Nhất và Lục , Nhị và Thất , Tam và Bát, Tứ và Cửu, Ngũ và Thập là các số Thiên tiên bát quái sinh thành. Hai cung cùng nhau hợp thành 10 như Khảm nhất – Ly cửu; Khôn nhị – Cấn bát;Chất Tam – Đoài thất ; Tốn tứ – Càn lục; là các cung đối nhau của Hậu thiên bát quái. Các cung hợp nhau thành 10 tức là 2 khí thông nhau. Trên cơ sở này sinh ra 2 quẻ là loại quẻ ” Tam ban liền số ” và một loại quẻ ” Tam ban phụ mẫu “.

* Quẻ Tam ban liền số có 9 loại : 1-2-3; 2-3-4; 3-4-5; 4-5-6; 5-6-7; 6-7-8; 7-8-9; 8-9-1; 9-1-2.

Các loại quẻ Tam ban này thích hợp dùng với hai loại Linh thần và Chính thần.

Thí dụ: Vận 1, sơn Tý hướng Ngọ. Vì là vận 1 nên Chính thần ở tại cung Khảm 1 còn Linh thần ở tại cung đối chiếu qua Trung-cung là cung Ly 9. Nơi cung tọa là cung Khảm (Tý nằm trong cung Khảm) có phi tinh của Tọa và Hướng là 2 (Nhị-hắc) và 9 (Cửu-tử) trong khi ở cung hướng là cung Ly (Ngọ nằm trong cung Ly) có phi tinh là 1 (Nhất-bạch) và 1 (Nhất-bạch). Bốn phi tinh ở 2 cung tọa và hướng hợp thành quẻ Tam ban quái là Cửu Nhất Nhị (9, 1, 2). Quẻ Tam ban này có thể thông khí 3 vận Cửu, Nhất và Nhị. Một vận vượng thì 2 vận kia đều vượng.

* Quẻ Tam ban phụ mẫu như : 1-4-7 ; 2-5-8 ; 3-6-9 ; Các loại quẻ Tam ban này lấy sự sinh thành của Sơn và Hướng làm cơ sở , bao hàm hợp thành 10 trong đó. Phụ mẩu Tam ban quái là các bộ 3 số cách khoảng nhau là 3: Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát hay Tam Lục Cửu. Khi các cung Ly với Càn Chấn, Khảm với Tốn Ðoài đều có Phụ mẫu Tam ban quái tới thì gọi là đồng liệt. Như Hướng ở cung Ly có Nhất-bạch, ở cung Càn có Tứ-lục và ở cung Chấn có Thất-xích chứ không phải ở mổi cung Ly, Càn, Chấn đều phải có Vận, Tọa và Hướng tạo thành Phụ mẫu Tam ban quái làm thông khí trong cả Tam Nguyên Cửu Vận. Loại quẻ này lấy hợp số sinh thành của tọa và hướng của các cung Ly và Khảm làm cơ sở. Như Nhất Tứ Thất là khí của vận 1, 4 và 7 thông nhau nên đương vận có thể rút mượn khí của 2 vận kia để dùng trước…

Cung Càn là Thiên-môn, cung Tốn là Ðịa-hộ là 2 cung quan trọng trong phép đả kiếp. Trong trường hợp vượng tinh đáo hướng:

a) Phi tinh ở cung Càn và cung Ly tương hợp với cung Chấn thành Phụ mẫu Tam ban quái gọi là chân đả kiếp. Tức là chân hợp thì tự phát vì lệnh tinh ở đầu hướng.

b) Phi tinh ở cung Tốn và cung Khảm tương hợp với cung Ðoài thành Phụ mẫu Tam ban quái gọi là giả đả kiếp. Tức là giả hợp.

Số ở Trung-cung là số sinh (còn gọi là số lập cực), trong khi số thành là:

a) số ở cung Khảm trong các vận 1, 2, 3, 4 và

b) số ở cung Ly trong các vận 6, 7, 8, 9.

Hợp số sinh thành là số sinh hợp với số thành tạo thành một trong các cặp sau đây:

a) Nhất Lục (cùng họ),

b) Nhị Thất (đồng đạo),

d) Tứ Cửu (bằng hửu),

Ðây còn gọi là các cặp số đồng một khí vì là “cùng họ” hoặc “đồng đạo” hoặc “bạn bè” hoặc “bằng hửu” nên hợp nhau. Các cặp số này là các cặp số sao của các chòm sao của 4 hướng của Hà-đồ.

1. Bất cứ ở vận nào, số của Vận ở Trung-cung đều hợp với cung Ly hay cung Khảm thành cặp số có cùng một khí vì Vận-bàn được bày bố theo chiều thuận của Lường-Thiên-Xích. Cho nên số sinh thành của tiên thiên bát quái là số của Trung cung hợp với cung Khảm hoặc với cung Ly.

2. Nếu số ở Hướng (hay Tọa) của Trung-cung có thể hợp với số ở Hướng (hay Tọa) của cung Ly và Tọa (hay Hướng) ở Trung-cung có thể hợp với Tọa (hay Hướng) của cung Khảm cùng một lúc thì 3 cung hợp thành số của Tiên-thiên Bát-quái. Như vậy tọa và hướng cùng thông khí với Trung-cung. Trường hợp tổng số của Hướng (hay Tọa) ở cung hướng, cung tọa hay Trung-cung là 10 (hợp thập) cũng được coi là thông khí giửa các cung này.

3. Khí của quẻ trước, giửa và sau liên thông nhau sẻ xuất hiện sự liên thông khí của Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên nên các nguyên đều dùng được. Như những cuộc mà ở cung hướng có các sao ở Tọa và Hướng là Nhất + Nhất có thể dùng để thông khí của vận 4 và 7, tức là hợp thành quẻ Tam ban Nhất Tứ Thất. Nhị + Nhị có thể dùng để thông khí của các vận 5 và 8 tức là hợp thành quẻ Tam ban Nhị Ngủ Bát…

4. Muốn biết ba loại quẻ Phụ Mẫu Tam ban là Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu xuất hiện ở các cung vị nào thì phải xem cung có song tinh đáo hướng. Nếu song tinh đáo hướng xuất hiện ở cung Ly 9 tức là Cửu, là vận 9 Hạ-nguyên nên nguyên và vận mà nó đối ứng là vận 3 Thượng-nguyên (cung Chấn) và vận 6 Trung-nguyên (cung Càn). Tức là Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Chấn Càn Ly. Như vậy:

a. Khảm 1 hay Tốn 4 hay Ðoài 7 thì Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Khảm Tốn Ðoài. Còn gọi là Khảm cung đả kiếp.

b. Khôn 2 hay Trung-cung 5 hay Cấn 8 thì Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Khôn Trung-cung Cấn. Còn gọi là Khôn Cấn đả kiếp hay Tam-ban xảo quái.

c. Chấn 3 hay Càn 6 hay Ly 9 thì Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Chấn Càn Ly. Còn gọi là Ly cung đả kiếp.

Ngoài ra còn có trường hợp toàn cuộc hợp thành quẻ Phụ Mẫu Tam ban tức là Vận, Tọa và Hướng của mổi cung hợp nhau lại thành Phụ Mẫu Tam ban quái. Trường hợp này không cần điều kiện song tinh đáo hướng. Thí dụ: Vận 2, sơn Cấn hướng Khôn.

5. Trong cách tuyễn chọn hướng thì sau đây là các cách tuyễn chọn có công dụng tốt từ cao xuống thấp:

a) Phụ Mẫu Tam-ban xảo quái: có thể thông khí cả 3 nguyên nên có được tốt lành lâu đời, phồn vinh, hưng thịnh mà không bị giới hạn Thướng Sơn Há Thủy. Nếu có thể đảo ngược cách kỵ long thì càng tuyệt diệu.

b) Toàn cuộc hợp thập.

c) Phụ Mẫu Ly cung đả kiếp.

d) Vượng sơn vượng hướng (Ðáo sơn đáo hướng) có 2 cung Thành-môn.

e) Vượng sơn vượng hướng.

f) Phụ Mẫu Khảm cung đả kiếp.

I/ Từ vận 1 đến vận 9 , bất cứ sao nào nhập vào trung cung đều hình thành với Khảm hoặc Ly một số sinh thành Tiên thiên bát quái . Nhất nhập trung cung hợp với Khảm thành Nhất – Lục, Nhị nhập trung cung hợp với Khảm thành Nhị – Thất , Tam nhập trung cung hợp với Khảm thành Tam – Bát, Tứ nhập trung cung hợp với Khảm thành Tứ – Cửu , Lục nhập trung cung hợp với Ly thành Lục – Nhất Thất nhập trung cung hợp với Ly thành Thất – Nhị , Bát nhập trung cung hợp với Ly thành Bát – Tam , Cửu nhập trung cung hợp với Ly thành Cửu – Tứ. Do vậy số sinh thành của Thiên tiên bát quái phải là cung chính giữa với cung Khảm hoặc cung chính giữa với cung Ly cùng hợp với nhau.

II/ Nếu cung chính giữa hợp với cung Khảm lại hợp với cung Ly , 3 cung hợp lại thành số Tiên thiên bát quái thì Sơn và Hướng nhất quán với khí quẻ của trung cung , cùng thông Khí trước sau. .

III/ Sự liên thông Khí của quẻ trước, quẻ giữa và quẻ sau sẽ xuất hiện việc liên thông Khí của Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên , do đó các Nguyên đều dùng được.

IV/ Ba loại quẻ Tam ban 1-4-7; 2-5-8, 3-6-9 gọi là quẻ Tam ban xảo số. Ba sao nói trên ( 1-4-7; 2-5-8, 3-6-9 ) đóng cùng một cung giống như một chuỗi ngọc đính liền nhau nên người ta gọi là ” Tam châu liên thành cách ” , tạo thành cách tốt đẹp , rực rợ.

Trong trạch bàn mà cung nào tam thông như vậy gọi là quẻ Tam ban xảo số.

Tam ban xảo số ở cung nào thì cung đó đại cát. Tam ban xảo số toàn bàn thì toàn bàn đại cát.

Trong 1944 cục của Huyền không phi tinh chỉ có 16 cục có Tam ban xảo số toàn bàn . Tam ban xảo số toàn bàn đẹp hơn rất nhiều cục Cung Ly đả kiếp và cục cung Khảm đả kiếp .

Theo sắp xếp của Huyền không học như sau :

1/ Tam ban xảo số . ( Đẹp gấp 3 mục 2 )

2/ Đáo Sơn đáo Hướng. ( Đẹp gấp 2 mục 3 ).

3/ Ly cung đả kiếp và Khảm cung đả kiếp .

Điều kiện để có Cung Ly đả kiếp là : Có song tinh ra hướng nhà , ba cung đó liên thông : LY- CHẤN – CÀN , tạo thành một trục tam giác liên hoàn khí giữa các khí ( 1-4-7, 2-5-8 ; 3-6-9 ). Ly cung đả kiếp có thể chống lại Phản, Phục ngâm, biến suy tinh của Sơn và Hướng thành Vượng tinh.

QUẺ TAM BAN ĐẢ KIẾP LY CUNG VÀ KHẢM CUNG.

Mỗi quẻ có 3 cục phạm phản , phục ngâm nên không thể xử dụng.

* Sơn Tốn – Hướng Càn – Vận 6 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

* Sơn Tỵ – Hướng Hợi – Vận 6 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

* Sơn Nhâm – Hướng Bính – Vận 9 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

* Sơn Bính – Hướng Nhâm – Vận 1 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

* Sơn Càn – Hướng Tốn – Vận 4 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

* Sơn Hợi – Hướng Tỵ – Vận 4 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

Phép Ly cung đả kiếp và Khảm cung đả kiếp được xử dụng khi khó chọn địa hình của âm hay dương trạch. So với phép vượng Sơn – Vượng Hướng , hai cung Thành môn, và toàn cục hợp thập thì phép đả kiếp đã cung cấp thêm cho ta một cách nữa để lựa chọn.Nó trội hơn phép vượng Sơn – Vượng Hướng và ngang công hiệu với toàn cục hợp thập. Trong 64 cục kể ở trên thì có quẻ Tam ban xảo quái hình thành trên 2 cung Cấn và Khôn là khó gặp nhất nhưng có giá trị nhất. 16 cục này gọi là toàn cục hợp thành quẻ Tam ban , có thể thông khí cả 3 nguyên là Thượng, Trung, Hạ nguyên , dùng nó tốt lành, đời đòi phồn thịnh. Quẻ Tam ban như thế không bi giới hạn của Thướng Sơn – Hạ thủy , nhưng nếu có thể dùng cách đảo ngược kỵ Long thì càng tốt đẹp. Sử dụng quẻ Tam ban cần phải phối hợp với cách cục của môi trường , phải có đắc Sơn để chế ngự Thủy , phải có đắc Thủy để thu hồi Sơn , hợp với Ngũ hành sinh khắc , bằng không sẽ phản tác dụng . Bỏi vậy các Phong Thủy Sư phải hết sức lưu ý và làm cho thuần thục.

Trong Ly cung đả kiếp và Khảm cung đả kiếp , công hiệu của Ly cung đả kiếp mạnh hơn. Phong thủy gọi là ” Chân đả kiếp” ( Cướp đoạt thật sự ) , còn Khảm cung đả kiếp thì công hiệu nhỏ hơn gọi là : Giả đả kiếp ” ( cướp giả ) .

nguồn: https://dienbatnblog.blogspot.com


【#7】Phong Thủy Luận . Bài 11.

Phần 2 : KHẢO QUA HUYỀN KHÔNG.

MỘT SỐ QUY TẮC CỦA CỔ DỊCH HUYỀN KHÔNG.

( Những tài liệu ở đây do dienbatn sưu tầm và tổng hợp- Vì quá nhiều nguồn nên dienbatn không ghi nguồn – Xin cảm ơn các tác giả – dienbatn )

3/ Bàn về quẻ Tam ban.

Quẻ nối liền nhau được hình thành trên cơ sở hai cung Sơn và hướng hợp thành 10 gọi là quẻ Tam chúng tôi cung cùng nhau sinh thành như Nhất và Lục , Nhị và Thất , Tam và Bát, Tứ và Cửu, Ngũ và Thập là các số Thiên tiên bát quái sinh thành. Hai cung cùng nhau hợp thành 10 như Khảm nhất – Ly cửu; Khôn nhị – Cấn bát;Chất Tam – Đoài thất ; Tốn tứ – Càn lục; là các cung đối nhau của Hậu thiên bát quái. Các cung hợp nhau thành 10 tức là 2 khí thông nhau. Trên cơ sở này sinh ra 2 quẻ là loại quẻ ” Tam ban liền số ” và một loại quẻ ” Tam ban phụ mẫu “.

* Quẻ Tam ban liền số có 9 loại : 1-2-3; 2-3-4; 3-4-5; 4-5-6; 5-6-7; 6-7-8; 7-8-9; 8-9-1; 9-1-2.

Các loại quẻ Tam ban này thích hợp dùng với hai loại Linh thần và Chính thần.

Thí dụ: Vận 1, sơn Tý hướng Ngọ. Vì là vận 1 nên Chính thần ở tại cung Khảm 1 còn Linh thần ở tại cung đối chiếu qua Trung-cung là cung Ly 9. Nơi cung tọa là cung Khảm (Tý nằm trong cung Khảm) có phi tinh của Tọa và Hướng là 2 (Nhị-hắc) và 9 (Cửu-tử) trong khi ở cung hướng là cung Ly (Ngọ nằm trong cung Ly) có phi tinh là 1 (Nhất-bạch) và 1 (Nhất-bạch). Bốn phi tinh ở 2 cung tọa và hướng hợp thành quẻ Tam ban quái là Cửu Nhất Nhị (9, 1, 2). Quẻ Tam ban này có thể thông khí 3 vận Cửu, Nhất và Nhị. Một vận vượng thì 2 vận kia đều vượng.

* Quẻ Tam ban phụ mẫu như : 1-4-7 ; 2-5-8 ; 3-6-9 ; Các loại quẻ Tam ban này lấy sự sinh thành của Sơn và Hướng làm cơ sở , bao hàm hợp thành 10 trong đó. Phụ mẩu Tam ban quái là các bộ 3 số cách khoảng nhau là 3: Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát hay Tam Lục Cửu. Khi các cung Ly với Càn Chấn, Khảm với Tốn Ðoài đều có Phụ mẫu Tam ban quái tới thì gọi là đồng liệt. Như Hướng ở cung Ly có Nhất-bạch, ở cung Càn có Tứ-lục và ở cung Chấn có Thất-xích chứ không phải ở mổi cung Ly, Càn, Chấn đều phải có Vận, Tọa và Hướng tạo thành Phụ mẫu Tam ban quái làm thông khí trong cả Tam Nguyên Cửu Vận. Loại quẻ này lấy hợp số sinh thành của tọa và hướng của các cung Ly và Khảm làm cơ sở. Như Nhất Tứ Thất là khí của vận 1, 4 và 7 thông nhau nên đương vận có thể rút mượn khí của 2 vận kia để dùng trước…

Cung Càn là Thiên-môn, cung Tốn là Ðịa-hộ là 2 cung quan trọng trong phép đả kiếp. Trong trường hợp vượng tinh đáo hướng:

a) Phi tinh ở cung Càn và cung Ly tương hợp với cung Chấn thành Phụ mẫu Tam ban quái gọi là chân đả kiếp. Tức là chân hợp thì tự phát vì lệnh tinh ở đầu hướng.

b) Phi tinh ở cung Tốn và cung Khảm tương hợp với cung Ðoài thành Phụ mẫu Tam ban quái gọi là giả đả kiếp. Tức là giả hợp.

Số ở Trung-cung là số sinh (còn gọi là số lập cực), trong khi số thành là:

a) số ở cung Khảm trong các vận 1, 2, 3, 4 và

b) số ở cung Ly trong các vận 6, 7, 8, 9.

Hợp số sinh thành là số sinh hợp với số thành tạo thành một trong các cặp sau đây:

a) Nhất Lục (cùng họ),

b) Nhị Thất (đồng đạo),

d) Tứ Cửu (bằng hửu),

Ðây còn gọi là các cặp số đồng một khí vì là “cùng họ” hoặc “đồng đạo” hoặc “bạn bè” hoặc “bằng hửu” nên hợp nhau. Các cặp số này là các cặp số sao của các chòm sao của 4 hướng của Hà-đồ.

1. Bất cứ ở vận nào, số của Vận ở Trung-cung đều hợp với cung Ly hay cung Khảm thành cặp số có cùng một khí vì Vận-bàn được bày bố theo chiều thuận của Lường-Thiên-Xích. Cho nên số sinh thành của tiên thiên bát quái là số của Trung cung hợp với cung Khảm hoặc với cung Ly.

2. Nếu số ở Hướng (hay Tọa) của Trung-cung có thể hợp với số ở Hướng (hay Tọa) của cung Ly và Tọa (hay Hướng) ở Trung-cung có thể hợp với Tọa (hay Hướng) của cung Khảm cùng một lúc thì 3 cung hợp thành số của Tiên-thiên Bát-quái. Như vậy tọa và hướng cùng thông khí với Trung-cung. Trường hợp tổng số của Hướng (hay Tọa) ở cung hướng, cung tọa hay Trung-cung là 10 (hợp thập) cũng được coi là thông khí giửa các cung này.

3. Khí của quẻ trước, giửa và sau liên thông nhau sẻ xuất hiện sự liên thông khí của Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên nên các nguyên đều dùng được. Như những cuộc mà ở cung hướng có các sao ở Tọa và Hướng là Nhất + Nhất có thể dùng để thông khí của vận 4 và 7, tức là hợp thành quẻ Tam ban Nhất Tứ Thất. Nhị + Nhị có thể dùng để thông khí của các vận 5 và 8 tức là hợp thành quẻ Tam ban Nhị Ngủ Bát…

4. Muốn biết ba loại quẻ Phụ Mẫu Tam ban là Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu xuất hiện ở các cung vị nào thì phải xem cung có song tinh đáo hướng. Nếu song tinh đáo hướng xuất hiện ở cung Ly 9 tức là Cửu, là vận 9 Hạ-nguyên nên nguyên và vận mà nó đối ứng là vận 3 Thượng-nguyên (cung Chấn) và vận 6 Trung-nguyên (cung Càn). Tức là Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Chấn Càn Ly. Như vậy:

a. Khảm 1 hay Tốn 4 hay Ðoài 7 thì Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Khảm Tốn Ðoài. Còn gọi là Khảm cung đả kiếp.

b. Khôn 2 hay Trung-cung 5 hay Cấn 8 thì Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Khôn Trung-cung Cấn. Còn gọi là Khôn Cấn đả kiếp hay Tam-ban xảo quái.

c. Chấn 3 hay Càn 6 hay Ly 9 thì Phụ Mẫu Tam ban quái xuất hiện ở các cung Chấn Càn Ly. Còn gọi là Ly cung đả kiếp.

Ngoài ra còn có trường hợp toàn cuộc hợp thành quẻ Phụ Mẫu Tam ban tức là Vận, Tọa và Hướng của mổi cung hợp nhau lại thành Phụ Mẫu Tam ban quái. Trường hợp này không cần điều kiện song tinh đáo hướng. Thí dụ: Vận 2, sơn Cấn hướng Khôn.

5. Trong cách tuyễn chọn hướng thì sau đây là các cách tuyễn chọn có công dụng tốt từ cao xuống thấp:

a) Phụ Mẫu Tam-ban xảo quái: có thể thông khí cả 3 nguyên nên có được tốt lành lâu đời, phồn vinh, hưng thịnh mà không bị giới hạn Thướng Sơn Há Thủy. Nếu có thể đảo ngược cách kỵ long thì càng tuyệt diệu.

b) Toàn cuộc hợp thập.

c) Phụ Mẫu Ly cung đả kiếp.

d) Vượng sơn vượng hướng (Ðáo sơn đáo hướng) có 2 cung Thành-môn.

e) Vượng sơn vượng hướng.

f) Phụ Mẫu Khảm cung đả kiếp.

I/ Từ vận 1 đến vận 9 , bất cứ sao nào nhập vào trung cung đều hình thành với Khảm hoặc Ly một số sinh thành Tiên thiên bát quái . Nhất nhập trung cung hợp với Khảm thành Nhất – Lục, Nhị nhập trung cung hợp với Khảm thành Nhị – Thất , Tam nhập trung cung hợp với Khảm thành Tam – Bát, Tứ nhập trung cung hợp với Khảm thành Tứ – Cửu , Lục nhập trung cung hợp với Ly thành Lục – Nhất Thất nhập trung cung hợp với Ly thành Thất – Nhị , Bát nhập trung cung hợp với Ly thành Bát – Tam , Cửu nhập trung cung hợp với Ly thành Cửu – Tứ. Do vậy số sinh thành của Thiên tiên bát quái phải là cung chính giữa với cung Khảm hoặc cung chính giữa với cung Ly cùng hợp với nhau.

II/ Nếu cung chính giữa hợp với cung Khảm lại hợp với cung Ly , 3 cung hợp lại thành số Tiên thiên bát quái thì Sơn và Hướng nhất quán với khí quẻ của trung cung , cùng thông Khí trước sau. .

III/ Sự liên thông Khí của quẻ trước, quẻ giữa và quẻ sau sẽ xuất hiện việc liên thông Khí của Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên , do đó các Nguyên đều dùng được.

IV/ Ba loại quẻ Tam ban 1-4-7; 2-5-8, 3-6-9 gọi là quẻ Tam ban xảo số. Ba sao nói trên ( 1-4-7; 2-5-8, 3-6-9 ) đóng cùng một cung giống như một chuỗi ngọc đính liền nhau nên người ta gọi là ” Tam châu liên thành cách ” , tạo thành cách tốt đẹp , rực rợ.

Trong trạch bàn mà cung nào tam thông như vậy gọi là quẻ Tam ban xảo số.

Tam ban xảo số ở cung nào thì cung đó đại cát. Tam ban xảo số toàn bàn thì toàn bàn đại cát.

Trong 1944 cục của Huyền không phi tinh chỉ có 16 cục có Tam ban xảo số toàn bàn . Tam ban xảo số toàn bàn đẹp hơn rất nhiều cục Cung Ly đả kiếp và cục cung Khảm đả kiếp .

Theo sắp xếp của Huyền không học như sau :

1/ Tam ban xảo số . ( Đẹp gấp 3 mục 2 )

2/ Đáo Sơn đáo Hướng. ( Đẹp gấp 2 mục 3 ).

3/ Ly cung đả kiếp và Khảm cung đả kiếp .

Ví dụ : Nhà tọa Sửu – Hướng Mùi vận 6.

Nhà này được Tam ban xảo số toàn bàn.

Trong 24 Sơn, Hướng, 216 cục ( Nếu bao gồm cả quẻ thay thế có 432 cục ) , phàm là cục Hạ thủy mà song tinh đáo hướng , đều có thể dùng phép ” Đả kiếp ” . Còn cục ” Thượng Sơn – Hà Thủy ” của 2 cung Khôn – Cấn đều có Tam ban xảo quái.

LY CUNG ĐẢ KIẾP CÁC VẬN.

* Sơn Tân – Hướng Ất : Vận 2 : 2-5-8.

* Sơn Quý hướng Đinh . Vận 1 : 1-4-7.

5/ Khảm cung đả kiếp.

Khảm cung đả kiếp chỉ hình thành khi song tinh ra hướng nhà , tạo được 3 cung : KHẢM – TỐN – ĐOÀI , tạo thành một trục tam giác : 1-4-7; 2-5-8, 3-6-9. Khảm cung đả kiếp có thể chống lại Thướng Sơn hoặc Hạ thủy.

Lưu ý : Nếu Thướng Sơn hoặc Hạ thủy đi cùng với Phản ngâm, Phục ngâm thì không chống được.

KHẢM CUNG ĐẢ KIẾP CÁC VẬN .

* Sơn Ngọ – Hướng Tý . Vận 2 : 2-5-8.

* Sơn Mão – Hướng Dậu. Vận 1 : 1-4-7.

* Sơn Tuất – Hướng Thìn . Vận 6 : 3-6-9.

* Sơn Giáp – Hướng Canh . Vận 2 : 2-5-8.

* Sơn Bính – Hướng Nhâm . Vận 1 : 1-4-7.

* Sơn Ất – Hướng Tân . Vận 1 : 2-4-7.

* Sơn Đinh – Hướng Quý . Vận 2 : 2-5-8.

TAM BAN XẢO QUÁI CÁC VẬN.

* Sơn Cấn – Hướng Khôn . Vận 2 – Toàn cục.

* Sơn Khôn – Hướng Cấn : Vận 2 – Toàn cục.

* Sơn Dần – Hướng Thân : Vận 2 – Toàn cục.

Vận 5 : Toàn cục. Vận 8 : Toàn cục.

* Sơn Sửu – Hướng Mùi : Vận 4 ; Toàn cục.

* Sơn Mùi – Hướng Sửu : Vận 4 : Toàn cục.

Như vậy trong cửu vận : Quẻ Tam ban Ly cung đả kiếp có 24 cục, Quẻ Tam ban Khảm cung đả kiếp có 24 cục, quẻ tam ban xảo quái cung Cấn có 16 cục . Công lại tất cả là 64 cục.

QUẺ TAM BAN ĐẢ KIẾP LY CUNG VÀ KHẢM CUNG.

Mỗi quẻ có 3 cục phạm phản , phục ngâm nên không thể xử dụng.

* Sơn Tỵ – Hướng Hợi – Vận 6 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

* Sơn Nhâm – Hướng Bính – Vận 9 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

* Sơn Bính – Hướng Nhâm – Vận 1 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

* Sơn Càn – Hướng Tốn – Vận 4 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

* Sơn Hợi – Hướng Tỵ – Vận 4 – Phạm PHẢN PHỤC NGÂM.

Xin theo dõi tiếp bài 12 – dienbatn .


【#8】Phong Thủy Luân Bằng Gốm Sứ Chú Tiểu Bên Bình Trà

THÔNG TIN SẢN PHẨM : Phong Thủy Luân Bằng Gốm Sứ Chú Tiểu Bên Bình Trà

Phong thủy luân Bằng Gốm Chú Tiểu Bên ẤM Trà, chất liệu gốm sứ cao cấp và được tạo hình hoàn toàn Thủ công đã tạo nên một tác Phẩm Nghệ Thuật Trang trí thực Thụ. Kiểu dáng vô cùng thân thuộc, với Bình trà, Chén cùng chú Tiểu đang trầm tư suy nghĩ, tổng thể giúp mang lại cảm giác tĩnh lặng và nhẹ nhàng.

“Phong thủy luân giúp đổi vật khí trong phong thủy rất tốt, có tác dụng làm tụ khí tốt, đồng thời chống bế khí hiệu quả”

Video thực tế sản phẩm Thác nước mini để bàn Bằng Chất Liệu Gốm Sứ

Phong thủy Luân Bằng Gốm sứ Chú tiểu Bên tách trà, độc đáo đến từ sự đơn giản

Phong thủy luân hay thác nước phong thủy được tạo hình Bộ Ấm Trà, Vòi của Chiếc Bình Trà nơi dòng thác nước đều đặn chảy về Hồ thủy sinh bằng gốm

Thác nước với hình ảnh chiếc Bình trà Thân thuộc nơi xuất phát DÒNG thác Đổ, một dòng nước phong thủy luôn luôn được luân chuyển Với tác dụng Khởi tạo nguồn năng lượng, đồng thời khuếch tán nguồn năng lượng tốt vào không gian Ngôi nhà thân yêu của bạn.

Bài trí Phong thủy luân bằng gốm Chú Tiểu Tạo Không gian làm việc độc đáo

Vị trí đặt phong thủy luân bằng gốm Mang đến Hiệu Quả Tối ưu về mặt Phong thủy

Phong thủy luân được Sáng tạo nên với Mục đích kích hoạt dòng sinh khí, thác nước được Ra vừa dùng làm vật trang trí, đồng thời kích hoạt nguồn năng lượng tốt cho không gian làm việc và không gian sống.

Theo Thuyết Phong thủy, thì Có rất nhiều vị trí đặt thác nước phong thủy, Ví dụ như: đặt trong nhà, Sân vườn, ban công, treo trên tường, đặt trên bàn và nhiều vị trí khác. Nhưng tuyệt đối không nên đặt thác nước hay phong thủy luân trong Phòng Ngủ, vì với tiếng động sẽ gây bồn chồn và ngủ không đẫy giấc.

Thác nước phong thủy có thể đặt ở nhiều vị trí, tùy thuộc vào Bạn, bạn muốn trang trí ở đâu, tuy nhiên, bạn cần chú ý ở hướng đặt để mang lại hiệu quả tối ưu về mặt Phong thủy, sau đây là 3 Hướng đặt nhằm tạo hiệu quả tốt nhất:

– Hướng Đông, hướng tượng trưng cho sức khỏe và gia đạo.

– Hướng Đông Nam, là hướng biểu trưng cho sự giàu có và thịnh vượng.

– Hướng Bắc Nếu bạn muốn kích hoạt con đường danh vọng và sự nghiệp.

Phòng thủy luân bằng Gốm Chú tiểu Bình trà Bài trí Không gian làm việc

Một Số lưu Ý khi sử dụng thác nước phong thủy bằng gốm

Thác nước phong thủy mini để bàn Lấy nguồn nước từ Bể chứa thông qua máy bơm mini để tạo Dòng nước Luân chuyển, do đó bạn cần đảm bảo nguồn nước Phải sạch sẽ. Thường xuyên kiểm tra chất lượng nguồn nước để đảm bảo nước đảm bảo vệ sinh và sạch sẽ.

Thác nước mini Kèm theo một máy phun sương để tạo Hiệu Ứng Khói độc đáo, cũng như tăng cường độ ẩm, tạo sự mát lành cho không gian, tuy nhiên chỉ nên Bật máy phun sương khi cần thiết Nhất.

Mực Nước trong bể chứa cần cao hơn Thân máy Bơm mini chìm.

Cần phải kiểm tra nguồn nước thường xuyên để đảm bảo luôn sach sẽKHÁM PHÁ NGAY Một số mẫu thác nước phong thủy giá rẻ được ưa chuộng:

Thác Nước Phong Thủy Bằng Gốm Chú Tiểu Bên Thác Nước13 Mẫu thác nước mini để bàn Phong thủy HOT nhất 2019

Và, Bây gời bạn chưa biết Nên Mua Thác nước Phong thủy ở đâu? Thì đây sẽ là gợi ý tuyệt vời cho bạn.

Công ty quà tặng NATRA, được cấp phép bởi sở kế hoạch đầu tư Tp.Hồ Chí Minh năm 2021. Công ty quà tặng NATRA hiện đang sở hữu bộ sưu tập Thác nước Phong thủy với Kiểu dáng vô cùng độc đáo, đi cùng là chế độ Hậu mãi, bảo hành ( Với máy Phun sương và Máy bơm Mini được Bảo Hành 3 Tháng)

Liên Hệ NGAY:

Công ty TNHH Quà Tặng NATRA – Thegioiyeuthuong.co-NatraGifts

6G16 Ngõ 151-Trần Não-Bình An-Quận 2-Tp.HCM

Web: chúng tôi Email: [email protected]

Youtube: https://www.youtube.com/watch?v=_zTX3K8Yt2Y&feature=youtu.be

SĐT&Zalo: 0967.608.268

Sản phẩm tương tự


【#9】Xem Sim Phong Thủy Luận Hung

Theo thầy Duy Tâm Phúc – Chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực này, thì cách xem số điện thoại theo phong thủy cần phân tích sự tương hợp, bổ trợ và ý nghĩa của số sim đối với người sử dụng.

Do đó, cách xem sim phong thủy chuẩn nhất là cần luận giải theo 5 yếu tố: Âm dương tương phối, Ngũ hành, Hành quẻ kinh dịch, Cửu tinh đồ pháp và Quan niệm dân gian.

1 – Cách tính điểm sim phong thủy theo Âm dương tương phối

Đây là sự luận giải sự cân bằng của dãy số sim với chủ nhân. Điều này tạo nên sự cân bằng trong cuộc sống của mọi yếu tố, mọi sự việc trong cuộc sống của người sử dụng. Sự cân bằng về âm dương là nguồn gốc thúc đẩy sự phát triển. Điều này có nghĩa rằng, sim phong thủy sẽ góp phần tạo động lực và là “ngòi nổ” cho sự “phát triển” của bạn.

2 – Cách chọn sim phong thủy theo Ngũ hành

Đây chính là lý thuyết cơ bản, chủ đạo của phép chọn sim phong thủy hợp mệnh. Ngũ hành của số điện thoại cần tương sinh hoặc chí ít cũng phải tương hỗ với ngũ hành bản mệnh của người sử dụng để có được sự bổ trợ tốt nhất.

3 – Cách tính sim phong thủy theo hành quẻ kinh dịch

Một số điện thoại phong thủy mang ý nghĩa và sự bổ trợ, cải vận tốt nhất cần co quẻ dịch Hanh Cát. Đặc biệt, nếu bạn có thể chọn cho mình một dãy số có quẻ dịch phù hợp với ước muốn của mình sẽ là điều tuyệt vời nhất.

4 – Cách kiểm tra sim phong thủy theo Cửu tinh đồ pháp

Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời kỳ Hạ Nguyên (2003 – 2024) do sao Bát Bạch chủ quản. Thế nên bạn cần lựa chọn số điện thoại có chứa con số 8 để có được vượng khí từu vị tinh quân này.

5 – Cách tính sim phong thủy theo Quan niệm dân gian

Trong phương pháp xem bói sim hợp phong thủy chính xác nhất thì yếu tố này bao gồm 2 tiêu chí luận giải khác nhau đó là: tổng nút sim và các cặp số đẹp theo dân gian.

Một số sim mang sức mạnh và sự bổ trợ hoàn mỹ nhất cần có tổng nút cao, từ là từ 7 đến 10 điểm. Đồng thời, nếu dãy số có chứa các cặp số đẹp như: 79 (ông địa), 68 (lộc phát), 86 (phát lộc),… sẽ góp phần tạo nên sự viên mãn nhất cho số điện thoại này.

Đây chính là 5 yếu tố để xem sim phong thủy chuẩn nhất, nếu các bạn sử dụng cách tính nào nhiều hơn hoặc ít hơn những tiêu chí này thì đều thiếu đi tính chính xác của kết qua chấm điểm sim.


【#10】Đọc Chap 70 : Phong Thủy Luân Lưu (Hạ)

Một ngày khi Vương Tuấn Khải quay về phát hiện có một đạo sĩ đến hang muốn đưa Dịch Dương Thiên Tỉ đi

” hài tử theo ta đi ta sẽ chăm sóc con”

” không được con còn có ca ca, con không thể theo người đi được “

Cậu nhất quyết muốn đợi hắn mà Vương Tuấn Khải lại lặng lẽ quay đi

Hắn biết một con người như cậu chẳng thể nào ở bên một yêu quái như hắn được, đành cứ để đạo sĩ kia chăm sóc cậu như vậy có lẽ sẽ tốt hơn.

Dịch Dương Thiên Tỉ đợi hắn hai ngày liền vẫn không thấy bóng dáng hắn đâu, đạo sỹ khẽ xoa đầu cậu

” hài tử à theo ta đi thôi, ca ca của con xem ra không quay lại rồi “

” sao tiểu Khải có thể bỏ rơi ta”

Mười năm sau, cũng vào ngày tuyết rơi đầy trời Dịch Dương Thiên Tỉ nghe lẹnh sư phụ xuống núi trừ yêu thì bắt gặp cảnh Vương Tuấn Khải đang giết người

Hắn đôi mắt đỏ ngầu, răng nanh nhọn đáng sợ quay lại nhìn cậu

Nhìn thấy thiếu niên năm xưa mình cứu, hắn trong giờ phút đó đôi mắt trở lại bình thường răng cũng ngắn lại

” Thiên… “

” tại sao lại giết người! “

” ta… “

Hắn từng nghĩ ra bao viễn cảnh hai người gặp lại nhau, nhưng hắn vạn vạn không ngờ tới hắn và cậu lại gặp lại nhau trong hoàn cảnh này.

Dịch Dương Thiên Tỉ bây giờ đã trở thành một nam nhân anh tuấn, cũng không còn là thiếu niên nhỏ bé ngày xưa cần hắn bao vệ nữa

Vương Tuấn Khải cứ nghĩ cậu sẽ không ra tay với hắn, chỉ là hắn không ngờ cậu lại dùng chính con dao găm ngày xưa hắn tặng để đánh bại hắn

Dịch Dương Thiên Tỉ đem Vương Tuấn Khải phong ấn dưới hồ băng chỉ bỏ lị cho hắn một câu

” đến bao giờ ngươi không còn có suy nghĩ giết người nữa ta sẽ thả ngươi đi”

” loài người các ngươi đều như vậy ta thật hối hận khi xưa đã cứu ngươi! “

Vương Tuấn Khải hận, hắn thề nếu một ngày hắn thoát khỏi nơi này hắn sẽ giết bất cứ ai hắn gặp

Chỉ là hắn không hề biết cậu làm vậy là muốn bảo vệ hắn khỏi bị những môn đồ khác thu phục

Lại chính cậu cũng không biết ngày đó kẻ hắn giết là một tên khốn nạn cướp của giết người

Nhưng bí mật này cũng như phong ấn kia mãi mãi chìm dưới hồ băng không bao giờ được khai mở, hiều lầm cứ như vậy hóa thành hận thù.

Hai mươi năm sau, lợi dụng phong ấn đã yếu đi Vương Tuấn Khải dùng linh lực cả đời phá bỏ phong ấn thoát ra ngoài

Dịch Dương Thiên Tỉ lúc này đã trở thành trưởng môn chân nhân, cậu không nỡ giết hắn, lại không thể để hắn đi

Đem theo pháp khí cậu đánh tan nguyên thần của hắn, lại dùng pháp lực giữ lại chút hơi tàn của hắn phong ấn trên người một thiếu niên

Từ đó Vương Tuấn Khải trong hình hài thiếu niên được Dịch Dương Thiên Tỉ nhận làm đồ đệ, cậu ngày ngày chăm sóc tiểu đồ đệ kia giống như ngày xưa hắn chăm sóc cậu, quả là phong thủy luân lưu.


Bạn đang xem chủ đề Phong Thủy Luân trên website Tragopmobile.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!